• Bản kê khai quỹ hội năm 2013


    STT HỌ TÊN SỐ ĐIỆN THOẠI XÓM ĐÓNG GÓP
    1 Nguyễn Sơn Hải 913191986 Ba 1,000,000
    2 Bùi Huy Toàn 988000869 Cuối 1,000,000
    3 Trần Ngọc Thanh 986978846 Đông 500,000
    4 Vũ Duy Quyết 908222656 Đông 2,000,000
    5 Nguyễn Phi Khanh 1228029684 Ba 800,000
    6 Phan Ngọc Việt 1636721367 Chợ 500,000
    7 Bùi Quốc Túy 912808491 Ba 1,000,000
    8 Bùi Thị Chuyên 935383271 Cuối 2,000,000
    9 Nguyễn Văn Ngọc 904971268 Đông 1,000,000
    10 Vũ Thị Tuyến 938199770 Đông 1,000,000
    11 Bùi Văn Thịnh 903716658 Trại 1,000,000
    12 Nguyễn Thị Thoa 918028708 Ba 2,000,000
    13 Vũ Đức Hoài 972917455 Cùng 1,000,000
    14 Vũ Xuân Toàn 1683488804 Cầu 500,000
    15 Vũ Duy Phóng 919276909 Nhì 500,000
    16 Vũ Hồng Sáng 1697777135 Đông 1,000,000
    17 Vũ Văn Sơn 919557874 Nhì 500,000
    18 Vũ Duy Trọng Đông 1,000,000
    19 Bùi Văn Lương Cùng 1,000,000
    20 Vũ Văn Kỳ 1668345877 Tại 500,000
    21 Trần Văn Hợp 916272456 Đông 500,000
    22 Phan Cảnh Hưng Chợ 300,000
    23 Bùi Văn Tứ Trại 500,000
    24 Bùi Văn Cường 500,000
    25 Bùi Văn Thành 984382377 500,000
    26 Vũ Thị Hòa 62959046 Trại Gạo 300,000
    27 Vũ Văn Bình 975531379 Ba 500,000
    28 Bùi Quyết Chiến 1693658666 Cuối 500,000
    29 Bùi Quốc Phương 200,000
    30 Bùi Văn Hiệp 976677809 500,000
    31 Phan Văn Hưng 989963887 Cuối 500,000
    32 Vũ Đại Phong 1998017112 Đông 1,000,000
    33 Vũ Xuân Hiệp 984462644 1,000,000
    34 Vũ Văn Huy 1656882274 Cuối 500,000
    35 Bùi Văn Tú 917471164 500,000
    36 Nguyễn Sơn Trường 974752558 Cuối 1,000,000
    37 Phan Đình Quý 1679741818 Cùng 500,000
    38 Nguyễn Văn Thạch 923006279 Bến 500,000
    39 Bùi Thị Nết 200,000
    40 Nguyễn Thị Mận 200,000
    41 Vũ Duy Bảy 935343842 500,000
    42 Trần Ngọc Thìn 903731332 500,000
    43 Bùi Văn Thuấn 1224460189 Tại 500,000
    44 Vũ Ngọc Tú 500,000
    45 Trần Công Tuấn 700,000
    46 Nguyễn Văn Thao 972067532 Gia 300,000
    47 Nguyễn Văn Trung 918323268 500,000
    48 Bùi Xuân Phương 500,000
    49 Phan Xuân Hưng 3,000,000
    50 Bùi Xuân Trọng 200,000
    51 Bùi Tuấn Anh 500,000
    52 Vũ Thị Thu Hương 500,000
    53 Vũ Duy Đạt 903782265 500,000
    54 Nguyễn Văn Xuân 500,000
    55 Bùi Thị Thúy 200,000
    56 Nguyễn Thị Thúy 1234176016 500,000
    57 Vũ Thị Tư 200,000
    58 Nguyễn Thị Nga 200,000
    59 Phan Tiến Sinh 500,000
    60 Phan Thị Hạnh 942733409 500,000
    61 Bùi Văn Anh 200,000
    62 Bùi Văn Tuất 500,000
    63 Vũ Duy Hùng 500,000
    64 Nguyễn Mạnh Quân 300,000
    65 Vũ Thị Vân 903300361 5,000,000
    66 Nguyễn Văn Chính 1,000,000
    67 Bùi Văn Tâm 500,000
    68 Bùi Văn Lợi 500,000
    69 Vũ Ngọc Lâm 913669321 500,000
    70 Tài trợ (Vũ Duy Thọ + Bùi Huy Toàn) 34,750,000
    71 Công đức xây đám 1,260,000
    TỔNG CỘNG 86,310,000
    NĂM 2012 5,350,000
    LÃI SuẤT 1,285,000
    CHI ĐÁM TiỆC 59,630,000
    CHI KHEN THƯỞNG HỌC SINH GiỎI 1,200,000
    CHI WEBSITE 900,000
    CHI ĐÁM HiẾU (5 ĐÁM HiẾU) + CHÚC TẾT + THĂM BỆNH 7,000,000
    CÒN LẠI 24,215,000

     

    ——————————————————————————————————————————————

One Responseso far.

  1. Khách viết:

    Đọc và hiểu thêm về lịch sử Làng Gạo.

    Làng Gạo, thôn Quả Linh, xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định với nhiều di tích lịch sử văn hóa dân gian.
    Kỳ 1. Lịch sử về Làng Gạo
    1. Vài nét về lịch sử Làng Gạo Làng Kẻ Gạo, tên chữ hán là Cảo Linh, sau đổi thành Quả Linh, thuộc xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Theo ngọc phả đền thờ Trần Báo Đạo ở làng Thượng Linh (xã Đại Thắng) do Nguyễn Bính biên soạn năm th nhất Hồng Phúc triều Lê (1572), đã nói đến làng Quả Linh:
    … ông Trần Hinh … “đi đến địa đầu Nghĩa Hưng đạo Sơn Nam, gặp trời mưa to, ông thấy một miếu nhỏ bên đường, vội vào trú. Ông tựa vào án thiu thi ngủ lúc nào không biết. Bỗng thấy có người trong miếu đi ra, vừa đi vừa ngâm:
    Trần Công Hinh hề! Trần Công Hinh!
    Giữa miền Thiên Bản có Quả Linh
    Khuyên người trời tạnh nên tìm đến
    Sinh được thần minh, sự nghiệp thành.

    Tỉnh dậy, nhớ lời thần ngâm, ông vội ghi lại, vái tạ rồi đi. Ngày hôm sau, quả tìm được đất Thiên Bản – huyện đó có bãi biển, trên bến dưới thuyền. Nơi đó đất phù sa bồi đắp lên khoảng năm sáu chục mẫu rộng, dân tụ họp hơn chục
    nóc nhà. Đó chính là đất Quả Linh, địa linh nhân kiệt (đất thiêng người giỏi), xứng danh là Quả Linh vậy. Ông vui mừng cảm thấy thần báo là đúng, bèn lựa lời xin dần làng Quả Linh cho cư trú, ngày ngày xuống biển thả lưới đánh cá, một mình nuôi thân. Mãi lúc ông 36 tuổi, mới về quê thăm họ hàng, lấy người con gái nghèo trong làng là Lê Thị Thục làm vợ, cùng đưa nhau trở lại Quả Linh, vợ chồng chuyên cần làm ruộng, đánh cá…”. Về sau, hai con trai của Trần Hinh là Lôi Công và Linh Công lấy đất Ngũ Ngư, lập ra làng Thượng Linh (nay thuộc xã Đại Thắng).

    Gia phả họ Vũ (Đông) cũng ghi: “Biết rằng theo như sự tích anh em thủ tổ họ Trần ở Thượng thôn, thì các tộc lớn ở ấp ta đều bắt đầu từ thời vua Hùng, nhưng tộc ta đến cư trú đầu tiên ở bốn giáp, tất nhiên ta là tổ đầu tiên của các họ vậy”.

    Trong thực tế xưa nay, các họ đều thừa nhận tổ họ Vũ đến đầu tiên, được rước đi đầu tiên trong các họ vào ngày hội. Làng Gạo có 4 giáp: Đông, Cầu, Chải, Cuối. Có 19 ngõ, mỗi giáp có 4 ngõ, mỗi ngõ có một điếm, đông hơn là giáp Đông có 6 ngõ, giáp Cầu có 5 ngõ. Hiện nay còn 11 điếm, là nơi tập họp của dân xóm ngõ khi cần thiết như lễ bản thổ xóm, canh gác, hội họp, tập trung vui chơi… Làng Gạo có 4 giáp, làm các nghề khác nhau. Miền Đông thì được hoa màu Miền Chải tôm cá, miền Cầu cửi canh Mở chợ buôn bán thông hành Miền Cuối may vá tập tành xưa nay (trích bài ca hội Làng Gạo) Làng Gạo có chợ Gạo đã đi vào ca dao Thiên Bản, mùa xuân có thú chơi chợ. Chợ Gạo xưa họp ngày mồng bốn, chợ phiên như ca dao có ghi:
    Mồng một chơi tết ở nhà
    Mông hai chơi điếm, mồng ba chơi đình
    Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
    Mồng năm chợ Trình, mồng sáu chợ Gôi
    Nghỉ ngày mồng bảy mà thôi
    Đến ngày mồng tám đi chơi chợ Viềng.

    Ngày nay, chợ họp hai phiên chính là ngày ba và ngày tám, còn hàng ngà đều họp chợ:
    Chợ Gạo một tháng sáu phiên
    Ngày ba ngày tám có duyên bán hàng
    Ngày dưng họp ở trong làng
    Sáng thì thịt cá, chiều thường rạ rơm
    Chiều còn bán cả vải con
    Mua nhiều đủ gánh trẩy Thanh, trẩy Đoài
    Hàng quà hàng bánh nhiều nơi
    Cũng đến chợ bán mọi người mua đông
    Làng Riềng, Bách Cốc, An Nhân
    Trình Xuyên, Định Trạch cả trên Tổ Cầu
    Cả trong làng Nghệ, làng Hầu
    Đình Hương, Nguyệt Mại đâu đâu cũng về
    Thóc gạo các nơi dư thừa
    Đem đến chợ bán người mua cũng nhiều
    Vải tấm nhiều biết bao nhiêu
    Thêm cả hàng sắt, lại nhiều lợn con
    Chính phiên đủ mọi giống con
    Đủ mọi rau giống mua trồng quanh năm.

    Chợ Gạo như vậy là nơi buôn bán, trao đổi nhiều hàng hóa, trung tâm của miền hạ đất Thiên Bản (Vụ Bản ngày nay). Đặc điểm của chợ Gạo là buôn bán nhiều lúa gạo, là làng dệt vải nên bán nhiều vải con, vải tấm là loại vải dệt khung cửi tay nhỏ, nhưng bán nhiều để cất hàng đi trẩy vào Thanh hay đưa lên miền Sơn Tây – Hà Đông, đồng thời đó cũng là vùng cung cấp nhiều loại giống cây, con trong sản xuất nông nghiệp.
    Theo truyền thuyết, lại được phản ánh trong các bài ca, thì làng Gạo có độ thuyền vận chuyển lương thực rất giỏi, bảo vệ tốt và đủ lúa thuế, lúa lương cho các triều đại phong kiến trước đây, nên thường được nhiều làng đến thuê vận chuyển lương thưc.
    “Cảo Linh người thảo rất hiền
    Tiện có bến thuyền vận chuyển lương đi
    Vua Trần truyền báo một khi
    Thóc gạo đem đến để thì không sao
    Chở lương vào chốn kinh tào
    Đường sông Thanh Hóa ra vào gần hơn
    Có anh tài vận chuyển lương
    Mỗi khi thuyền tới nội trường nhà vua
    Bao lần thanh khoản cả bao
    Không bao giờ mất chút nào về lương
    Gọi tên làng Gạo thông thường
    Nhớ tên mà hỏi, nhớ đường mà sang
    Có tên chợ Gạo đầu làng
    Nhiều nguồn buôn bán, nhiều hàng để mua
    Cả làng chuyển thóc nhà vua
    Để cho binh sĩ bốn mùa lương ăn
    Đây là lệnh của triều đình
    Lương thực phải đủ, tuyển binh phải thừa
    Giặc Nguyên ta đánh nó thua
    Nhân dân cầy cấy bốn mùa làm ăn.

    Một truyền thuyết khác, chợ Gạo trước ở gần đền làng xưa có một cây gạo, nơi đó có sét đánh, cây gạo tách ra một kim bài 18 chữ duệ hiệu của vị thiên thần “Đô thiên tôn thần” chuyên trông coi việc làm mưa, tưới nước cho đồng điền tươi tốt. Cây bông gạo (mộc miên) có hoa và quả. Quả bông gạo có sợi bông, thường hiện vẫn có nơi dùng nhồi gối. Theo các cụ, ngày xưa có thể cán như bông hạt, bỏ loại hạt ra, lấy bông gạo kéo thành con cúi để kéo sợi dệt vải được.
    Nếu vậy, nghề dệt vải của làng Gạo có thể gắn bó với truyền thuyết thần cây gạo.
    “Lôi dạ hiện thần bài phát dương giả tạo hóa âm dương chi tích.
    Mộc miên truyền cổ thụ thông uất tai giang sơn chung dục kỳ linh”
    Dịch nghĩa:
    Tiếng sấm đêm hiện thần bài làm rỡ ràng dấu tích âm dương tạo hóa.
    Cây bông gạo thành cổ thụ làm rực rỡ sự linh thiêng của đất nước đẹp tươi.
    (Câu đối của phó bảng Phan Thiện Niêm)

    Tóm lại: Làng Gạo có từ xa xưa, chữ Hán Việt ghi là Cảo Linh sau đổi thành Cảo Linh. Thần phả đến làng Riềng đã ghi rõ làng Gạo có từ thời Hùng Vương dựng nước, có trước cả làng Thượng Linh. Tên làng Gạo gắn bó với một miền nông nghiệp lúa nước, có chợ bán nhiều gạo, là một làng chuyển chở thóc quân lương cho nhà vua từ thời Trần, làng làng có cây gạo thần đã hiện ra thần bài, là làng xa xưa đã sản sinh ra loại vải dệt từ bông gạo. Tất cả đều nói lên đây là một làng cổ xưa, sống cả về nông nghiệp, cả về thủ công dệt
    vải, là một trung tâm kinh tế ở miền hạ Vụ Bản, vốn xưa là một làng trù phú ở ven biển, có bề dày lịch sử phong phú, có nhiều phong tục đẹp của một làng cổ xưa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.